Chủ Nhật, 08/08/2010, 11:02 GMT+7
Đặt tên cho con theo vần H
1. Hà thanh hải yến: Hà: sông; thanh: trong; hải: biển; yến: yên lặng.
Nghĩa: Sông trong biển lặng. Nghĩa bóng: Cảnh tượng thái bình.

Trịnh Tích Phu nói: “Hà thanh hải yến, thời hoà niên phong” (“Sông trong biển lặng, thời tiết hài hoà, năm được mùa”).

Ví dụ đặt tên: Phạm Hà Thanh – Trần Hải Yến
Dương Hoà Phong – Ngô Phong Niên

2. Hạ vũ vũ nhân:

Hạ: mùa hè; vũ: mưa, đổ nước xuống; nhân: người.

Nghĩa: Mưa mùa hạ đổ nước xuống cho người. Nghĩa bóng: Ân huệ kịp thời cho dân, như mùa hạ được mưa thấm nhuần cây cối.

Tả truyện chép lời Quản Trọng: “Ngô bất năng dĩ xuân phong phong nhân, hạ vũ vũ nhân, ngô cùng tất hĩ” (“Ta không được lấy gió xuân quạt người, lấy mưa hạ rưới người, ta phải khốn cùng rồi đó”).

Ví dụ đặt tên: Vương Hạ Vũ – Huỳnh Xuân Phong
Lê Vũ Nhân – Ngô Phong Nhân

3. Hạ bút thành chương:

Hạ: đặt xuống; bút: cây bút; thành: trở thành; chương: văn bài, văn chương

Nghĩa: Đặt bút thành văn chương. Tào Thực là con của Tào Tháo,
lên mười tuổi đã làm văn hay. Tào Tháo có lần xem, ngờ không phải do tự Tào Thực làm. Thực bèn thưa: “Xuất khẩu thành thi, hạ bút thành chương, xin cha xem lại”. Thành ngữ này để chỉ người có tài văn chương.

Ví dụ đặt tên: Đỗ Thành Chương – Phạm Bút Chương

4. Hạc lập kê quần:

Hạc: loài chim lớn, bay nhanh; lập: đứng; kê: con gà; quần: bầy.

Nghĩa: Con chim hạc đứng với bầy gà. Nghĩa bóng ví người hào kiệt giữa kẻ thường nhân.

Ví dụ đặt tên: Đào Dã Hạc – Cao Trác Lập

5. Hải bất dương ba:

Hải: biển; bất: không; dương: nổi lên, dậy lên; ba: sóng.

Nghĩa: Biển không nổi sóng. Nghĩa bóng: Nước nhà yên lặng, thời thái bình. Đời vua Thành Vương nhà Chu, sứ giả Việt Thường tâu rằng: “Hải bất dương ba dã tam niên, ý giả Trung Quốc kỳ hữu thánh nhân hồ” (“Bể không nổi sóng đã ba năm nay, ở Trung Quốc có thanh nhân sinh”).

Ví dụ đặt tên: Bùi Hải Ba – Lưu Hải Dương

6. Hải ốc thiêm trù:

Hải: biển; ốc: nhà; thiêm: thêm; trù: thẻ.

Nghĩa: Thẻ thêm nhà biển. Nghĩa bóng: Lời chúc thọ cho người đã già. Sách Ngữ lâm kể: Ngày xưa có ba ông lão gặp nhau, hỏi tuổi nhau. Một ông nói: “Hễ khi nào biển hoá ra ruộng thì tôi bỏ thêm một cái thẻ. Nay đã được mười thẻ rồi”. Ý nói sống rất lâu.

Ví dụ đặt tên: Đặng Hải Trù – Phạm Thiêm Trù
Trần Hải Thiêm – Trịnh Thiêm Hải.

7. Hàm anh thư hoa:

Hàm: ngậm; anh: tinh tuý; thư: nhai; hoa: đẹp tốt.

Nghĩa: Ngậm cái tinh tuý, nhai cái hoa mỹ. Nghĩa bóng: Thưởng thức từ ngữ hoa mỹ bóng bẩy của văn chương.

Ví dụ đặt tên: Phạm Thị Ánh Hoa – Nguyễn Hàm Hoa
Trần Hàm Anh – Lê Như Hàm
Cao Hàm Thư

8. Hàm bô cổ phúc:

Hàm: ngậm; bô: ăn; cổ: cái trống, đáng trống, vỗ; phúc: cái bụng

Nghĩa: Ngậm cơm, vỗ bụng. Nghĩa bóng: cảnh tượng vui vẻ của người dân thời thái bình. Dân thời thượng cổ (Trung Hoa) rảnh rang, không bận rộn gì, hưởng thái bình.

Sách Trang Tử chép: “Hàm bô nhi hi, cổ phúc nhi du” (“Ngậm cơm mà nô giỡn, vỗ bụng mà vui chơi”).

Ví dụ đặt tên: Phạm Hàm Phúc – Vương Phúc Hàm

9. Hạnh lâm xuân noãn:

Hạnh: một thứ cây, lá giống lá mơ, cây mận; lâm: rừng; xuân: mùa xuân; noãn: ấm.

Nghĩa: Xuân ấm rừng hạnh. Nghĩa bóng: Lời khen người thầy thuốc giỏi.

Thần tiên truyện kể ông Đổng PHụng đời Tam Quốc ở núi Lư sơn, làm thuốc chữa bệnh, không lấy tiền bạc của ai, mà người đau nặng ông bắt trồng năm cây hạnh, người đau nhẹ phải trồng một cây. Chỉ trong vòng mấy năm, họ trồng cho ông được mười vạn cây. Người ta đặt tên cho vườn trồng nhiều hạnh đó là “ Đổng tiên hạnh lâm” (rừng hạnh của ông tiên họ Đổng)

Ví dụ đặt tên: Phương Hạnh Lâm – Mai Xuân Noãn
Lê Xuân Lâm – Phạm Xuân Hạnh
Trần Lâm Xuân.

10. Hồng hộc chi chí:

Hồng: chim hồng, loài ngỗng trời bay cao; hộc: là con ngan trời, cũng thuộc loài bay cao. Hai loài chim nàyví với người có chí hướng cao siêu, tư tưởng khác tục; chi: của; chí: chí hướng.

Nghĩa: Cái chí của con chim hồng, chim hộc. Nghĩa bóng: Chí lớn của bậc anh hùng.

Sử ký chép truyện Trần Thiệp thế gia rằng: Lúc còn hàn vi, Trần Thiệp, người đời Hán, đi cày thuê cho người. Khi nghỉ cày, ngồi trên bờ ruộng,nói với mấy người bạn cùng cày thuê: “Nếu sau này được giàu sang, tôi không quên các anh đâu”. Mấy ngườii bạn cười đáp: “Anh là người đi làm thuê, sao lại trông giàu được”. Trần Thiệp than rằng: “Yến tước an tri hồng học chi chí tai?”(“Loài chim én, chim sẻ [bay thấp] thì làm sao mà biết được cái thí của chim hồng, chim hộc [ bay rất cao]). Về sau, Trần Thiệp khởi binh đánh nhà Tần đầu tiên, trước cả Hạnh Vũ là Lưu Bang, rồi xưng vương. Tuy nhiên, sự nghiệp không được lâu dài.

Ví dụ đặt tên: Trần Chí Hồng – Trịnh Hồng Chi
Lương Như Hộc – Lê Chi Hộc

11. Hung trung giáp binh:

Hung: bụng; trung: ở trong; giáp: áo của người lính mặc; áo giáp; binh: lính.

Nghĩa: Có giáp binh trong bụng. Nghĩa bóng: Người giỏi việc binh.

Tống sử chép truyện ông Phạm Trọng Yêm lĩnh chức ở Diên An, người đương thời bảo rằng: “Tiểu Phạm lão tử hùng trung tự hữu sổ vạn giáp binh” (“Tiểu Phạm lão tử trong lòng có sẵn mấy vạn giáp binh”).

Ví dụ đặt tên: Phạm Giáp Trung – Bùi Bình Trung
Lưu Trung Giáp.

12. Hưởng át hành vân:

Hưởng: tiếng, tiếng dội lại; át: ngăn, cấm chế; hành: đi; vân: mây.

Nghĩa: Tiếng hát làm cho mây ngừng bay. Nghĩa bóng: ngườicó giọng hát rất hay.

Sách Liệt Tử có câu: “Thanh chấn lâm mộc,hưởng át hành vân” (“Tiếng rung cây rừng, vang dừng mây bay”).

Ví dụ đặt tên: Bùi Văn Át – Lý Át Vân
Lê Vân Hưởng – Phạm Hành Vân

13. Hữu cầu tất ứng:

Hữu: có; cầu: mong mỏi, xin; tất: ắt là; ứng: đáp lại.

Nghĩa: Có cầu xin thì ắt là có đáp lại.

Ví dụ đặt tên: Nguyễn Hữu Cầu – Phạm Hữu Ứng
Trần Tất Ứng.
bầu bí ( theo sinhcon.com )
Các tin khác: